Biển giàu, sao người làm biển vẫn khó giàu

Miền Trung sở hữu nguồn lợi thủy sản phong phú và nhiều lợi thế phát triển kinh tế biển, nhưng không ít ngư dân, cơ sở chế biến vẫn chật vật với bài toán thu nhập và thị trường. Muốn biến tiềm năng thành giá trị bền vững, cần tổ chức lại chuỗi sản xuất, thu hút đầu tư có sức lan tỏa và đưa chính sách đến gần hơn với doanh nghiệp, người dân.

Miền Trung có một nghịch lý đã tồn tại nhiều năm. Biển rộng, ngư trường phong phú, ngư dân cần cù, chịu thương chịu khó; vậy mà không ít làng biển vẫn nghèo, nhiều doanh nghiệp thủy sản vẫn loay hoay với chuyện vốn liếng, công nghệ và đầu ra. Cá tôm đánh bắt, nuôi trồng được bao nhiêu, phần lớn đều phải tìm cách bán nhanh bấy nhiêu. Được mùa chưa chắc đã vui, bởi sản lượng tăng mà giá xuống thì người làm biển vẫn thiệt.

Điều đáng suy nghĩ là những sản vật ấy, sau khi rời khỏi địa phương, qua vài công đoạn chế biến, đóng gói, xây dựng thương hiệu, lại có thể trở thành những mặt hàng giá trị cao trên thị trường quốc tế. Người trực tiếp làm ra nguyên liệu phải chịu bao nhiêu rủi ro, từ bão gió, dịch bệnh đến biến động giá cả; nhưng phần lợi nhuận lớn hơn nhiều khi lại thuộc về những khâu nằm phía sau quá trình sản xuất.

Vậy vấn đề nằm ở đâu? Ở chỗ biển chưa đủ giàu, người dân chưa đủ giỏi, hay ở cách chúng ta tổ chức sản xuất, thu hút đầu tư và thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển?

Tôi nghiêng về nguyên nhân thứ ba.

Biển miền Trung rộng, ngư trường phong phú, ngư dân cần cù, chịu thương chịu khó; vậy mà không ít làng biển vẫn nghèo. Ảnh minh hoạ: Quang Tám.

Có nguyên liệu nhưng chưa làm chủ được thị trường

Vùng biển Bình - Trị - Thiên, nay thuộc tỉnh Quảng Trị và thành phố Huế, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thủy sản. Từ đánh bắt xa bờ đến nuôi tôm, nuôi cá, chế biến nước mắm, hải sản khô, nhiều nghề đã gắn bó với đời sống người dân qua hàng chục, hàng trăm năm.

Những năm gần đây, một số mô hình nuôi trồng ứng dụng công nghệ cao, liên kết sản xuất và tiêu thụ đã mang lại kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu sản xuất, phần lớn cơ sở chế biến vẫn có quy mô nhỏ, công nghệ hạn chế, sản phẩm chủ yếu là nguyên liệu hoặc sơ chế. Những khâu có khả năng tạo thêm giá trị như chế biến thực phẩm cao cấp, kiểm soát chất lượng, phát triển thương hiệu và tổ chức phân phối vẫn chưa trở thành thế mạnh của địa phương.

Một con cá ngừ vừa đánh bắt, nếu được bảo quản đúng kỹ thuật, phân loại và chế biến theo tiêu chuẩn quốc tế, có thể trở thành nguyên liệu cho những sản phẩm thực phẩm cao cấp. Nhưng nếu thiếu kho lạnh, vận chuyển chậm hoặc không kiểm soát được chất lượng, giá trị thương mại sẽ giảm đáng kể. Con tôm cũng vậy; bán ngay tại ao khác xa với việc đưa vào dây chuyền chế biến, đóng gói và phân phối đến những thị trường có sức mua lớn.

Sự chênh lệch ấy không chỉ do máy móc hay công nghệ. Đằng sau nó là cả một cách tổ chức sản xuất, từ con giống, vùng nuôi, bảo quản, kiểm nghiệm đến thị trường tiêu thụ.

Lâu nay, chúng ta thường tự hào về sản lượng đánh bắt, nuôi trồng, về số lượng tàu thuyền và diện tích mặt nước. Những con số ấy phản ánh kết quả lao động, nhưng chưa nói hết hiệu quả kinh tế. Sản lượng có thể tăng mà lợi nhuận không tăng tương ứng; người dân làm nhiều hơn nhưng thu nhập chưa chắc khá hơn.

Một nền kinh tế biển không thể chỉ trông chờ vào việc mỗi năm đưa thêm được bao nhiêu cá tôm lên bờ. Nguồn lợi biển có giới hạn; muốn người dân khá lên, phải biết làm cho mỗi đơn vị sản phẩm có giá trị cao hơn.

Thu hút đầu tư nước ngoài, điều gì còn lại cho địa phương?

Trong bối cảnh các tập đoàn quốc tế đang điều chỉnh chuỗi cung ứng, ngành chế biến thủy sản Việt Nam có thêm cơ hội tiếp nhận vốn, công nghệ và thị trường từ các nhà đầu tư nước ngoài. Với miền Trung, đây là cơ hội đáng quan tâm, bởi nguồn nguyên liệu sẵn có có thể kết hợp với công nghệ chế biến và hệ thống phân phối quốc tế để hình thành những chuỗi sản xuất có giá trị cao hơn.

Nhưng có nguyên liệu chưa đủ để thu hút và giữ chân nhà đầu tư. Một doanh nghiệp nước ngoài khi quyết định xây dựng nhà máy không chỉ tính toán giá đất, ưu đãi thuế hay chi phí nhân công. Họ phải biết nguyên liệu có ổn định không, chất lượng có đồng đều không, nguồn gốc có minh bạch không, vận chuyển và bảo quản có đáp ứng yêu cầu không. Họ cũng cần biết thủ tục đầu tư mất bao lâu, những cam kết của địa phương có được thực hiện nhất quán hay không.

Đây lại là những việc mà một doanh nghiệp nhỏ, thậm chí một nhà đầu tư lớn, khó có thể tự mình giải quyết.

Thực tế cho thấy, nhiều cơ sở thu mua, chế biến thủy sản còn hoạt động riêng lẻ. Người nuôi, ngư dân, thương lái và nhà máy chưa hình thành được mối liên kết chặt chẽ. Dữ liệu về nguồn gốc nguyên liệu có nơi chưa thông suốt; hệ thống kho lạnh, bảo quản và vận chuyển chưa đồng bộ. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng, an toàn thực phẩm và tính hợp pháp của hoạt động khai thác.

Miền Trung sở hữu nguồn lợi thủy sản phong phú và nhiều lợi thế phát triển kinh tế biển, nhưng không ít ngư dân, cơ sở chế biến vẫn chật vật với bài toán thu nhập và thị trường. Ảnh: Đình Duy.

Một nhà máy hiện đại đến đâu cũng khó hoạt động hiệu quả nếu nguyên liệu đầu vào không đạt chuẩn. Và một vùng nguyên liệu dù dồi dào đến mấy cũng khó bước vào chuỗi cung ứng quốc tế nếu mỗi hộ sản xuất một cách, mỗi cơ sở thu mua một kiểu.

Từ đó đặt ra một vấn đề khác, có lẽ còn quan trọng hơn số lượng dự án FDI được cấp phép: sau khi nhà đầu tư đến, doanh nghiệp và người dân địa phương nhận được những gì?

Nếu nhà máy sử dụng nguyên liệu từ nơi khác, công nghệ và dịch vụ phụ trợ chủ yếu do bên ngoài cung cấp, còn doanh nghiệp địa phương vẫn chỉ thu mua, sơ chế như cũ, thì tác động lan tỏa của dòng vốn đầu tư sẽ không nhiều. Có thêm nhà máy, thêm việc làm là điều đáng quý, nhưng như thế vẫn chưa đủ.

Điều cần hướng tới là thông qua hợp tác với doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước từng bước tiếp cận công nghệ mới, học được phương thức quản trị hiện đại, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và trở thành những nhà cung ứng có năng lực thực sự.

Tôi cho rằng, khi đánh giá hiệu quả một dự án đầu tư nước ngoài, bên cạnh vốn đầu tư, doanh thu và đóng góp ngân sách, cần quan tâm nhiều hơn đến sự trưởng thành của doanh nghiệp trong nước sau quá trình hợp tác. Một dự án có thể mang lại doanh thu lớn trong nhiều năm, nhưng nếu không tạo được sự liên kết và nâng cao năng lực sản xuất tại chỗ thì địa phương vẫn chưa tận dụng hết cơ hội.

Chính sách đúng chưa đủ, quan trọng là thực hiện thế nào

Không thể nói chúng ta thiếu chủ trương phát triển kinh tế biển, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hay khuyến khích đổi mới công nghệ. Vấn đề là từ chủ trương đến thực tế còn một khoảng cách không nhỏ.

Một doanh nghiệp muốn đầu tư dây chuyền chế biến sâu phải tính đến hàng loạt chi phí: nhà xưởng, máy móc, kho lạnh, kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng, nhân lực và thị trường tiêu thụ. Nếu phải vay vốn với điều kiện khó đáp ứng, mất nhiều thời gian làm thủ tục, lại chưa biết sản phẩm sẽ bán cho ai, thì dù có quyết tâm đến đâu cũng khó mạnh dạn đầu tư.

Trong khi đó, nhiều chương trình hỗ trợ vẫn thiên về từng công đoạn riêng lẻ. Hỗ trợ sản xuất một nơi, xúc tiến thương mại một nơi, đào tạo nghề một nơi; thiếu sự kết nối để hình thành một chuỗi kinh doanh có khả năng tự đứng vững.

Theo tôi, cần thay đổi từ cách nghĩ đến cách làm. Trước khi khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất, phải tìm hiểu thị trường đang cần gì, cần bao nhiêu, tiêu chuẩn ra sao và ai có khả năng tiêu thụ. Từ những yêu cầu cụ thể ấy mới tổ chức vùng nguyên liệu, lựa chọn doanh nghiệp chế biến, xác định công nghệ cần đầu tư và những hạ tầng Nhà nước phải hỗ trợ.

Chẳng hạn, khi một doanh nghiệp chế biến có đơn hàng dài hạn với đối tác nước ngoài, việc liên kết vùng nuôi, đầu tư kho lạnh hay cải tiến công nghệ sẽ có cơ sở tính toán rõ ràng hơn. Ngân hàng cũng có thêm căn cứ đánh giá khả năng trả nợ. Người nuôi biết trước yêu cầu chất lượng và phương thức thu mua, từ đó có thể điều chỉnh quy trình sản xuất.

Đó là mối liên kết cần được hình thành bằng lợi ích kinh tế và trách nhiệm hợp đồng, chứ không thể chỉ bằng những lời kêu gọi hợp tác.

Chính quyền địa phương không thể làm thay doanh nghiệp, nhưng có nhiều việc chỉ chính quyền mới làm được: quy hoạch vùng nguyên liệu, đầu tư hạ tầng dùng chung, minh bạch dữ liệu, tháo gỡ vướng mắc về đất đai, cải cách thủ tục và tạo điều kiện để các nhà đầu tư gặp được những đối tác phù hợp.

Đặc biệt, cần lựa chọn một số doanh nghiệp có năng lực làm hạt nhân liên kết, thay vì chia nhỏ nguồn lực hỗ trợ cho quá nhiều mô hình. Khi một doanh nghiệp phát triển được thị trường ổn định, những hợp tác xã, hộ nuôi và cơ sở dịch vụ xung quanh cũng có điều kiện phát triển theo.

Một chính sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi doanh nghiệp bớt khó khăn, người dân có thêm thu nhập và nguồn lực xã hội được sử dụng hiệu quả hơn. Còn nếu chính sách rất đầy đủ trên giấy nhưng người cần hỗ trợ vẫn không tiếp cận được, thì điều cần xem xét trước hết chính là cách tổ chức thực hiện.

Đừng để lợi thế mãi chỉ là tiềm năng

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh Quảng Trị và TP. Huế có thêm điều kiện để tổ chức lại không gian phát triển kinh tế, kết nối các vùng nuôi trồng, khai thác thủy sản với khu công nghiệp, cảng biển và hệ thống logistics. Nếu biết tận dụng, đây có thể là cơ hội khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, đầu tư manh mún đã kéo dài nhiều năm.

Tuy nhiên, không phải cứ mở rộng địa giới, xây thêm khu công nghiệp hay kêu gọi được nhiều dự án là kinh tế tự khắc phát triển. Một khu công nghiệp có thể được quy hoạch rất đẹp, nhưng nếu thiếu nguồn nguyên liệu ổn định, thiếu lao động phù hợp và không có thị trường thì khó thu hút được những nhà đầu tư có năng lực.

Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần bớt nói về tiềm năng, để dành nhiều công sức hơn cho việc biến tiềm năng thành những giá trị cụ thể; để sau mỗi chuyến biển, mỗi vụ nuôi, phần thành quả ở lại với người dân và quê hương ngày một nhiều hơn.

Cũng không nhất thiết phải chạy theo những dự án thật lớn. Nhiều sản phẩm truyền thống như nước mắm, mực khô, cá khô, tôm chua vẫn có thể tạo thêm giá trị nếu được nâng cao chất lượng, cải tiến bao bì, bảo đảm an toàn thực phẩm và xây dựng thương hiệu. Một cơ sở nhỏ làm ăn bài bản, có thị trường ổn định, tạo việc làm và thu nhập tốt cho người lao động đôi khi còn có ý nghĩa thiết thực hơn một dự án lớn nhưng hiệu quả thấp.

Điều quan trọng là phải xác định được địa phương có lợi thế thực sự ở đâu, sản phẩm nào có khả năng cạnh tranh, thị trường nào có thể tiếp cận và nguồn lực nào cần ưu tiên. Không thể đầu tư dàn trải, càng không nên chạy theo phong trào.

Tôi vẫn nghĩ, sự phát triển của kinh tế biển trước hết phải được nhìn từ cuộc sống của những người gắn bó với biển. Một chuyến tàu trở về đầy cá là niềm vui, nhưng niềm vui ấy sẽ trọn vẹn hơn khi sản phẩm bán được giá, người lao động có thu nhập ổn định, con em họ có thêm cơ hội việc làm ngay trên quê hương mình.

Miền Trung đã trải qua quá nhiều gian khó. Người dân nơi đây không thiếu ý chí vươn lên; điều họ cần là một môi trường làm ăn thuận lợi, những doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt và những chính sách thực sự đồng hành với sản xuất, kinh doanh.

Biển vẫn ở đó, với những mùa cá tôm và cả những bất trắc không thể lường hết. Nhưng tương lai của kinh tế biển không thể chỉ phụ thuộc vào những gì thiên nhiên hào phóng ban tặng.

Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần bớt nói về tiềm năng, để dành nhiều công sức hơn cho việc biến tiềm năng thành những giá trị cụ thể; để sau mỗi chuyến biển, mỗi vụ nuôi, phần thành quả ở lại với người dân và quê hương ngày một nhiều hơn.

Nguồn: https://nhadautu.vn/bien-giau-sao-nguoi-lam-bien-van-kho-giau-d108388.html

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam