Mô hình nuôi cá song bằng lồng HDPE tại Vân Đồn cho thấy khả năng chống chịu thiên tai, nâng tỷ lệ sống, tạo cơ sở chuyển đổi nuôi biển theo hướng công nghiệp.
Từ lồng gỗ sang vật liệu mới
Tại vùng biển Vân Đồn, TP Quảng Ninh, những chiếc lồng HDPE đang từng bước thay thế lồng gỗ truyền thống tại các cơ sở nuôi cá song. Chi phí đầu tư ban đầu cao hơn nhưng khả năng chống chịu sóng gió, giảm rủi ro và kiểm soát quy trình nuôi đang tạo thêm động lực để người dân chuyển đổi phương thức sản xuất.
Mô hình thuộc dự án khuyến nông trung ương “Xây dựng mô hình nuôi cá song (mú Trân Châu) bằng lồng HDPE trên biển đạt chứng nhận VietGAP gắn với tiêu thụ sản phẩm”, do Ban Quản lý rừng và Khuyến nông Hải Phòng chủ trì, phối hợp với Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng Quảng Ninh thực hiện trong giai đoạn 2025 - 2027.
Mô hình được triển khai tại đặc khu Cát Hải, TP Hải Phòng và đặc khu Vân Đồn, TP Quảng Ninh với tổng quy mô 472,5m3.
Là một trong những hộ tham gia mô hình, ông Long Văn Thắng, Phó Giám đốc HTX Nuôi trồng và Dịch vụ thủy sản Thắng Lợi (đặc khu Vân Đồn) có điều kiện trực tiếp so sánh giữa phương thức nuôi truyền thống và lồng HDPE.
HTX hiện có 9 thành viên, nuôi thủy sản trên tổng diện tích khoảng 35 ha. Trước đây, các hộ chủ yếu sử dụng lồng gỗ. Sau khi chuyển sang lồng HDPE, ông Thắng nhận thấy sự khác biệt rõ nhất ở khả năng chống chịu thời tiết.
Theo ông, qua thực tế sau bão năm 2024, nhiều lồng truyền thống bị hư hỏng, thậm chí không thể phục hồi. Trong khi đó, các lồng HDPE không bị ảnh hưởng nghiêm trọng, qua đó hạn chế nguy cơ thất thoát cá, giảm thiệt hại cho người nuôi.
“Lồng HDPE có sức chịu đựng thời tiết tốt hơn, đặc biệt khi xảy ra sóng lớn, gió mạnh và bão”, ông Thắng cho biết.
Đây cũng là một trong những lý do mô hình lồng HDPE được lựa chọn để thử nghiệm, chuyển giao kỹ thuật cho người nuôi cá song tại Vân Đồn. Các hộ tham gia được hướng dẫn từ khâu xử lý, vệ sinh lồng bè, lựa chọn con giống, điều chỉnh lượng thức ăn đến quản lý môi trường và sử dụng chế phẩm sinh học.
Theo ông Thắng, rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là vốn đầu tư ban đầu. Một ô lồng HDPE kích thước 4 x 4m có chi phí không dưới 100 triệu đồng, trong khi lồng truyền thống chỉ khoảng 10 - 15 triệu đồng.
Mức đầu tư chênh lệch khiến nhiều hộ còn cân nhắc, nhất là những hộ nguồn lực tài chính hạn chế. Vì vậy, thay vì chuyển đổi toàn bộ ngay lập tức, người nuôi có xu hướng đầu tư từng bước, tận dụng hệ thống lồng hiện có và bổ sung lồng HDPE theo khả năng tài chính.
Ông Thắng cho biết, HTX dự kiến từng bước chuyển đổi sang lồng HDPE khi đã thấy rõ hiệu quả mô hình.
Nâng tỷ lệ sống và giá trị sản xuất
Theo bà Nguyễn Thị Ngần, Phó phòng Kỹ thuật - Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng Quảng Ninh, kết quả bước đầu cho thấy mô hình đang bám sát mục tiêu đề ra.
Bà Ngần cho biết, với mô hình năm 2026, cá mới trải qua khoảng 5 tháng nuôi nhưng đã đạt trọng lượng 6 - 7 lạng/con, tỷ lệ sống trên 85%. Trong khi đó, kết quả mô hình triển khai năm 2025 cho thấy sau khoảng 8 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ 1,1 - 1,2kg/con (so với mục tiêu của dự án là 1kg/con).
Điểm đáng chú ý là hiệu quả không chỉ nằm ở trọng lượng cá. Quy trình nuôi được kiểm soát chặt hơn, kết hợp sử dụng chế phẩm sinh học, vitamin và các biện pháp quản lý môi trường, qua đó góp phần nâng sức đề kháng, hạn chế rủi ro dịch bệnh.
Theo đánh giá của cán bộ kỹ thuật, tỷ lệ sống cao là yếu tố trực tiếp tác động đến hiệu quả kinh tế của mô hình. Kết quả năm 2025 cho thấy hiệu quả kinh tế của mô hình cao hơn khoảng 36% so với ngoài mô hình.
Cùng với kỹ thuật nuôi, dự án còn hướng tới chuẩn hóa sản phẩm. Tại Quảng Ninh, 4.410 con cá giống cỡ 12 - 15cm/con đã được cấp cho mô hình. Thức ăn, chế phẩm sinh học và các vật tư cần thiết cũng được hỗ trợ theo tiến độ dự án.
Các hộ tham gia còn được tập huấn về quy trình nuôi cá song bằng lồng HDPE đạt tiêu chuẩn VietGAP. Dự án đã tổ chức 2 lớp tập huấn ngoài mô hình với 60 học viên tại Quảng Ninh và Hải Phòng, kết hợp tham quan thực tế, hướng dẫn đo các yếu tố môi trường và thực hành kỹ thuật.
Đến nay, đơn vị chủ trì đã lựa chọn đơn vị tư vấn và đơn vị đánh giá VietGAP. Hồ sơ cấp chứng nhận cho 2 hộ tham gia mô hình tại Hải Phòng và Quảng Ninh đang được hoàn thiện. Dự án cũng đã ký hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Tạo nền tảng nuôi biển công nghiệp
Theo ông Nguyễn Khắc Dũng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ninh, thủy sản là lĩnh vực quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của địa phương, chiếm trên 50% giá trị ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
Theo ông Dũng, từ lợi thế về biển, Quảng Ninh đã quy hoạch khoảng 140.000 ha phục vụ nuôi trồng thủy sản biển. Cùng với quy hoạch, việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất được xác định là hướng nâng cao hiệu quả và giá trị nuôi biển.
Thời gian tới, ngành nông nghiệp và môi trường Quảng Ninh tiếp tục tuyên truyền để người nuôi biển tiếp cận khoa học kỹ thuật mới. Cùng với đó, cơ quan chuyên môn sẽ nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách hỗ trợ người nuôi áp dụng tiến bộ kỹ thuật, trình cấp có thẩm quyền xem xét.
Theo ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, việc đưa công nghệ mới vào nuôi biển giúp người dân giảm chi phí đầu vào, nâng năng suất và hiệu quả kinh tế. Với lồng HDPE, ưu thế đáng chú ý là khả năng chịu sóng, gió lớn, hạn chế nguy cơ hư hỏng lồng và thất thoát thủy sản khi thời tiết bất lợi.
Tuy nhiên, để công nghệ mới được nhân rộng, bài toán vốn vẫn cần được giải quyết. Theo ông Hồng, với những hộ đủ khả năng, có thể đầu tư riêng, những hộ chưa đủ nguồn lực có thể liên kết thành nhóm, tổ đội hoặc tham gia HTX để cùng tổ chức sản xuất, góp vốn theo khả năng. Phương án phù hợp là chuyển đổi từng bước, mỗi năm đầu tư thêm một số lồng HDPE, từ đó từng bước thay thế lồng gỗ.
Về lâu dài, khi vật liệu mới được sử dụng rộng rãi, kết hợp với thiết bị và cơ giới hóa, hoạt động nuôi biển có thể giảm bớt lao động thủ công, tiết kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả sản xuất. Đây là bước chuyển cần thiết khi nuôi biển đang được định hướng theo quy mô tập trung, ứng dụng công nghệ.
Trước mắt, dự án tiếp tục chăm sóc, quản lý đàn cá, vệ sinh lồng nuôi, theo dõi tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống, đồng thời tổ chức nghiệm thu mô hình. Sau nghiệm thu, các đơn vị sẽ đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, làm cơ sở khuyến cáo nhân rộng trong những năm tiếp theo.