Ngao hai cùi mở thêm lựa chọn cho nuôi biển giá trị cao

Sau hơn hai năm triển khai tại Quảng Ninh và Khánh Hòa, Dự án Khuyến nông Trung ương xây dựng mô hình nuôi thương phẩm ngao hai cùi gắn với tiêu thụ sản phẩm đã ghi nhận những kết quả tích cực.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, việc tìm kiếm các đối tượng nuôi có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường khắc nghiệt đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với ngành thủy sản. Thực tế triển khai Dự án Khuyến nông Trung ương “Xây dựng mô hình nuôi thương phẩm ngao hai cùi (Tapes conspersus) gắn với tiêu thụ sản phẩm” đã cho thấy, ngao hai cùi là đối tượng nuôi nhiều triển vọng, vừa tạo giá trị kinh tế, vừa góp phần phát triển nuôi biển theo hướng an toàn và bền vững.

Dự án được triển khai trong giai đoạn 2024-2026 với tổng quy mô 25.600 m² diện tích lồng nuôi, tương đương 128.000 lồng có kích thước 50 x 27 cm. Tổng số giống thả đạt 7,68 triệu con ngao giống cấp 2, cỡ từ 12-22 mm; trong đó Nhà nước hỗ trợ 6,12 triệu con, các hộ dân đối ứng 1,56 triệu con. Có 10 hộ dân tham gia thực hiện mô hình.

Các điểm trình diễn được bố trí tại những khu vực có điều kiện nuôi biển đặc trưng, gồm ba điểm tại các xã đảo thuộc đặc khu Cô Tô và đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh) và một điểm tại đảo Hòn Giữa, xã Nam Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Các chuyên gia nghiệm thu mô hình ở Cô Tô. Ảnh: TTKNQG

Điểm nổi bật của dự án là lựa chọn hình thức nuôi ngao trong lồng đặt dưới đáy biển. Phương thức này giúp hạn chế đáng kể tác động của sóng lớn, bão và sự biến động môi trường ở tầng nước mặt – những yếu tố ngày càng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nuôi trồng thủy sản do biến đổi khí hậu.

Giai đoạn 2024-2025, dự án triển khai hai mô hình tại thôn 3, đặc khu Cô Tô và đảo Đống Chén, đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh). Trong quá trình thực hiện, cả hai mô hình đều chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão Yagi (bão số 3 năm 2024). Tuy nhiên, nhờ hệ thống lồng được bố trí dưới đáy biển ở độ sâu khoảng 6-8 m, hoặc khoảng 10 m khi thủy triều dâng cao, mức độ thiệt hại được giảm đáng kể.

Sau 12 tháng nuôi, cả hai mô hình đều hoàn thành các chỉ tiêu đặt ra. Tỷ lệ sống đạt từ 75% trở lên, cỡ ngao đạt từ 28 g/con, năng suất đạt từ 7,5 kg/m² diện tích lồng nuôi trở lên. Kết quả này cho thấy khả năng thích ứng cao của ngao hai cùi trước những tác động của thiên tai.

Bước sang giai đoạn 2025-2026, dự án tiếp tục triển khai tại đảo Cống Nứa, đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh) và đảo Hòn Giữa, xã Nam Ninh Hòa (Khánh Hòa). Hai mô hình đã được nghiệm thu trong tháng 6/2026 và đều đạt các mục tiêu theo kế hoạch.

Tại đảo Cống Nứa, mô hình được thực hiện trên diện tích 5.200 m² lồng nuôi, tương đương 26.000 lồng. Sau thời gian nuôi, ngao đạt cỡ trung bình 34,46 g/con, tỷ lệ sống đạt 77,8%, năng suất đạt 8 kg/m² diện tích lồng nuôi, sản lượng ước đạt trên 41 tấn.

Nghiệm thu mô hình tại đảo Hòn Giữa, xã Nam Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: TTKNQG

Trong khi đó, mô hình tại đảo Hòn Giữa được triển khai trên diện tích 10.400 m² lồng nuôi, tương đương 52.000 lồng. Đây cũng là mô hình chịu nhiều thử thách nhất khi vào tháng 11/2025, khu vực Khánh Hòa xảy ra trận lũ lớn làm độ mặn tại vùng nuôi có thời điểm giảm xuống còn 0‰. Nhiều đối tượng nuôi trong khu vực bị thiệt hại hoàn toàn.

Tuy nhiên, nhờ hệ thống lồng được bố trí dưới đáy biển nên ngao hai cùi ít chịu tác động của sự thay đổi độ mặn ở tầng nước mặt. Dù bị ảnh hưởng sau đợt lũ, đàn ngao vẫn duy trì được khả năng sinh trưởng. Khi nghiệm thu vào ngày 17/6/2026, ngao đạt cỡ trung bình 34,6 g/con; tỷ lệ sống đạt 40,3%; năng suất bình quân đạt 4,175 kg/m² diện tích lồng nuôi; sản lượng ước đạt trên 43 tấn. Các chỉ tiêu về tỷ lệ sống và năng suất thấp hơn mục tiêu ban đầu nhưng vẫn đáp ứng mục tiêu đã được điều chỉnh sau đợt thiên tai.

Kết quả thực tế từ các mô hình cho thấy, ngao hai cùi là đối tượng nuôi có khả năng thích ứng tốt với điều kiện biến đổi khí hậu, bão lũ và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Sau thiên tai, ngao nhanh chóng thích nghi với môi trường nuôi và tiếp tục phát triển ổn định.

Không chỉ có khả năng chống chịu tốt, ngao hai cùi còn mang nhiều ưu điểm về môi trường. Đây là loài nhuyễn thể ăn lọc, sử dụng tảo và mùn bã hữu cơ làm thức ăn nên góp phần cải thiện chất lượng nước trong vùng nuôi. Để sinh trưởng tốt, ngao đòi hỏi môi trường sạch, nền đáy có tỷ lệ bùn và cát khoảng 60:40. Sau 12 tháng nuôi, lớp bùn trên bề mặt lồng không quá 2 cm, góp phần bảo đảm điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm và phát triển nuôi biển theo hướng thân thiện với môi trường.

Ngao hai cùi đạt yêu cầu về kích cỡ. Ảnh: TTKNQG

Theo đánh giá của chuyên gia, quy trình kỹ thuật nuôi ngao hai cùi tương đối đơn giản, phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân. Người nuôi chỉ cần tuân thủ đúng quy trình từ lựa chọn vị trí, chuẩn bị cát và lồng nuôi, chọn giống chất lượng, duy trì mật độ không quá 300 con/m² diện tích lồng, đồng thời theo dõi thường xuyên tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng và các yếu tố môi trường, đặc biệt là độ mặn. Công tác thu hoạch và vận chuyển sản phẩm cũng thuận lợi, góp phần giảm chi phí sản xuất.

Bên cạnh hiệu quả kỹ thuật, dự án còn tạo chuyển biến tích cực về liên kết sản xuất. Trong quá trình triển khai, dự án đã hình thành được hai chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, giúp người dân yên tâm đầu ra. Kết quả hạch toán kinh tế bước đầu cho thấy, hiệu quả vượt trên 15% so với mục tiêu ban đầu của dự án; đồng thời lợi nhuận cao gấp 2-3 lần so với nuôi một số đối tượng cá truyền thống hoặc sản xuất lúa.

Song song với xây dựng mô hình, công tác đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cũng được chú trọng. Dự án đã tổ chức bốn lớp tập huấn ngay tại mô hình và năm lớp tập huấn nhân rộng. Việc kết hợp giữa lý thuyết, thực hành và tham quan thực tế giúp người dân nắm vững quy trình kỹ thuật. Đến nay, 100% học viên tham gia đều hiểu và có thể áp dụng quy trình nuôi thương phẩm ngao hai cùi gắn với tiêu thụ sản phẩm vào sản xuất.

Thời gian tới, Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản sẽ tiếp tục phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ninh, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Khánh Hòa cùng chính quyền địa phương tổ chức các hội thảo, hội nghị tổng kết dự án nhằm đánh giá toàn diện hiệu quả mô hình, đồng thời tăng cường tuyên truyền, chuyển giao kỹ thuật để mở rộng diện tích nuôi tại các vùng có điều kiện phù hợp.

Nguyệt An
Nguồn: thuysanvietnam.com.vn

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam