Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các nghiên cứu ưu tiên công nghệ có khả năng thương mại hóa, tăng kết nối giữa các viện nghiên cứu, nhà trường và doanh nghiệp.
Sáng 2/11, tại TP. Cần Thơ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an (Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 57 Trung ương) tổ chức Hội nghị "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp khu vực phía Nam".
5 điểm nghẽn, 3 vấn đề cần lưu tâm trong khoa học công nghệ nông nghiệp
Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng khẳng định khu vực phía Nam là địa bàn có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản cả nước, tập trung nhiều vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ngành hàng xuất khẩu chủ lực, cùng hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp có năng lực khoa học, công nghệ. Đây là những lợi thế để khu vực đi đầu trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp hiện đại, có giá trị gia tăng cao.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 4,02%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong 10 tháng đạt trên 63 tỷ USD. Nhiều tiến bộ về giống, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc được ứng dụng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho rằng cần nhìn nhận thẳng thắn những hạn chế của mô hình tăng trưởng nông nghiệp hiện nay, vốn chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô sản xuất và khai thác lợi thế tài nguyên. Mô hình này đang dần bộc lộ những giới hạn khi chi phí sản xuất còn cao, tổn thất sau thu hoạch lớn, giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng. Trong khi đó, năng lực chế biến sâu, liên kết chuỗi giá trị và ứng dụng khoa học, công nghệ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Báo cáo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định khoa học công nghệ đóng góp quan trọng vào kết quả tăng trưởng, song sản xuất nông nghiệp vẫn đối mặt với 5 điểm nghẽn cần tập trung tháo gỡ.
Trước hết, cơ chế đầu tư và tổ chức nghiên cứu chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường; nguồn lực còn phân tán, việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa hiệu quả. Cùng với đó, năng lực tự chủ công nghệ và nguyên liệu đầu vào còn hạn chế. Điển hình, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước mới đáp ứng 30-35% nhu cầu, khiến sản xuất phụ thuộc vào nhập khẩu.
Một khó khăn khác là sản xuất nhỏ lẻ, liên kết chuỗi giá trị thiếu bền vững, hạn chế khả năng cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ đồng bộ. Ở khâu sau thu hoạch, hạ tầng bảo quản, logistics và chế biến sâu chưa đáp ứng yêu cầu; nhiều nông sản vẫn tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô, phụ phẩm chưa được khai thác hiệu quả.
Đồng thời, chuyển đổi số và quản trị dữ liệu ngành chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến dự báo, điều hành sản xuất và truy xuất nguồn gốc. Cùng nhận diện những hạn chế trên, Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an chỉ ra 3 vấn đề cần quan tâm trong phát triển khoa học công nghệ nông nghiệp.
Nổi bật là kết quả thương mại hóa chưa tương xứng với tiềm năng nghiên cứu. Theo thống kê, 34 địa phương kê khai 916 nhiệm vụ gắn với 908 sản phẩm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó có 451 sản phẩm nông nghiệp. Đáng chú ý, 341 sản phẩm đang nghiên cứu, thử nghiệm, nhưng chỉ 11 sản phẩm đã được thương mại hóa, chiếm khoảng 2,4%.
Bên cạnh đó, nhiều địa phương có lợi thế sản xuất nhưng chưa giải quyết đồng bộ các khó khăn về công nghệ, chế biến và thị trường. Hoạt động nghiên cứu còn phân tán, thiếu liên kết giữa địa phương, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Một vấn đề khác là hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa cao. Đến ngày 24/9/2026, các địa phương được phân bổ hơn 25.000 tỷ đồng cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bao gồm lĩnh vực nông nghiệp, nhưng mới giải ngân hơn 8.000 tỷ đồng, đạt khoảng 33%.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Văn Long, thực trạng này đòi hỏi tháo gỡ những vướng mắc về thể chế, tài chính, dữ liệu và liên kết vùng; đồng thời tăng cường kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm và nâng cao hiệu quả đầu tư khoa học công nghệ.
Tập trung nguồn lực, giải quyết bài toán công nghệ theo từng ngành hàng
Từ những điểm nghẽn được chỉ ra, các ý kiến tại Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức đầu tư, tổ chức nghiên cứu theo nhu cầu thực tế của từng ngành hàng, gắn ứng dụng khoa học công nghệ với nâng cao năng suất, chế biến sâu và phát triển thị trường.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận cho rằng, để khoa học công nghệ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng nông nghiệp, nguồn lực đầu tư phải được sử dụng có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những nhiệm vụ có khả năng tạo giá trị gia tăng và nâng cao thu nhập người dân.
Tuy nhiên, tiến độ sử dụng nguồn lực còn hạn chế. Sau 9 tháng, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn đã bố trí cho các nhà thầu, nhà cung cấp mới đạt dưới 45%. Từ thực tế này, Bộ Tài chính đề nghị các cơ quan, đơn vị xác định rõ nhiệm vụ ưu tiên, kết hợp hiệu quả nguồn lực ngân sách với đầu tư xã hội, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, bố trí kinh phí nhưng chậm triển khai.
Cùng quan điểm, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ nghiên cứu các đề tài riêng lẻ sang giải quyết những bài toán lớn của từng ngành hàng, liên kết xuyên suốt từ giống, sản xuất đến chế biến và thị trường.
Năm 2026, kinh phí nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia phục vụ nông nghiệp do Bộ trực tiếp quản lý tăng 44%, từ 101 tỷ đồng lên 145,5 tỷ đồng. Trong đó, kinh phí nghiên cứu tăng gần gấp đôi, đạt 100,6 tỷ đồng.
Định hướng đến năm 2030, Bộ Khoa học và Công nghệ đặt mục tiêu ít nhất 50% nhiệm vụ đặt hàng có doanh nghiệp chủ trì hoặc tham gia, với vốn đối ứng tối thiểu 40%. Qua đó, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tế, xác định rõ đơn vị tiếp nhận và khả năng thương mại hóa sản phẩm.
Từ góc độ địa phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Phạm Tấn Hòa chia sẻ kinh nghiệm phát triển nông nghiệp đa giá trị, trong đó công nghệ được ứng dụng đồng bộ từ sản xuất đến chế biến và tận dụng phụ phẩm.
Tây Ninh hiện có khoảng 694.500 ha đất nông nghiệp, với 29,2% diện tích cây trồng chủ lực ứng dụng công nghệ cao. Tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất lúa, mía, sắn đạt trên 90%. Riêng ngành sắn có khoảng 61.000 ha, sản lượng trên 2 triệu tấn củ tươi mỗi năm. Với 65 doanh nghiệp chế biến, địa phương đang đẩy mạnh sản xuất tinh bột biến tính, mạch nha, đường glucose thay vì chủ yếu tiêu thụ sản phẩm thô.
Bên cạnh đó, Cà Mau tập trung giải quyết bài toán tự chủ công nghệ giống tôm, kiểm soát dịch bệnh và tổ chức lại vùng nguyên liệu. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử cho biết, sau hợp nhất, tỉnh có khoảng 417.800 ha nuôi tôm. Trong 9 tháng đầu năm 2026, sản lượng đạt 454.065 tấn, tăng 9,7%; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 1,805 tỷ USD.
Để tháo gỡ, giai đoạn 2026-2027, Cà Mau dự kiến lựa chọn 3-5 vùng hoặc cụm nuôi thí điểm sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn người nuôi, hợp tác xã với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ. Đồng thời, tỉnh ưu tiên nghiên cứu giống tôm sạch bệnh, công nghệ nuôi tuần hoàn, cảnh báo dịch bệnh và số hóa dữ liệu vùng nuôi; đề xuất tăng cường liên kết viện nghiên cứu với doanh nghiệp để chuyển giao, ứng dụng công nghệ.
Rà soát kết quả nghiên cứu, ưu tiên sản phẩm có khả năng thương mại hóa
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức tổ chức nghiên cứu, tập trung đưa kết quả khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, tạo ra sản phẩm có giá trị thực tế và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng nông nghiệp.
Theo Phó Thủ tướng, trọng tâm thời gian tới không chỉ là tăng đầu tư cho nghiên cứu mà phải khai thác hiệu quả những kết quả đã có, lựa chọn công nghệ tiềm năng để tiếp tục hoàn thiện, chuyển giao và thương mại hóa.
Trên tinh thần đó, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát các đề tài, kết quả nghiên cứu đã thực hiện, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp; xác định tiêu chí lựa chọn và cơ chế hỗ trợ những sản phẩm có khả năng ứng dụng, thương mại hóa.
Cùng với đó, khẩn trương tháo gỡ vướng mắc về sở hữu trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ và cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ đánh giá theo số lượng đề tài sang đánh giá bằng sản phẩm, địa chỉ ứng dụng và hiệu quả kinh tế - xã hội. Các nhiệm vụ nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, có doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu và xác định rõ khả năng đưa sản phẩm ra thị trường.
Đồng thời, cần đổi mới cơ chế liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất theo chuỗi giá trị. Trong đó, doanh nghiệp phải tham gia xác định nhu cầu, tiếp nhận công nghệ và tổ chức sản xuất, kinh doanh trên cơ sở kết quả nghiên cứu.
Hình thành thị trường công nghệ thống nhất, tăng kết nối nghiên cứu với doanh nghiệp
Bên cạnh đổi mới hoạt động nghiên cứu, Phó Thủ tướng yêu cầu thúc đẩy phát triển thị trường khoa học công nghệ, tăng khả năng kết nối giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp và các địa phương.
Từ thực tế các sàn giao dịch công nghệ còn hoạt động phân tán, hiệu quả kết nối cung cầu chưa cao, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu mô hình sàn giao dịch khoa học công nghệ chung, phát triển triển các dịch vụ tư vấn chuyển giao, định giá công nghệ, xác định quyền sở hữu trí tuệ và đánh giá khả năng thương mại hóa.
Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò đầu mối điều phối, kết nối các bài toán công nghệ của ngành hàng, địa phương và doanh nghiệp với năng lực nghiên cứu của viện, trường.
Trọng tâm là phát triển giống cây trồng, vật nuôi thế hệ mới, vắc xin thú y, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, tự động hóa, chế biến sâu, tận dụng phụ phẩm và truy xuất nguồn gốc nông sản. Đặc biệt, việc tổ chức nghiên cứu phải gắn với toàn bộ chuỗi giá trị, từ làm chủ giống, nguyên liệu đầu vào, tổ chức sản xuất đến bảo quản, chế biến và tiêu thụ.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và kết nối dữ liệu ngành, ưu tiên dữ liệu về đất đai, vùng trồng, vùng nuôi, giống, vật tư nông nghiệp, chất lượng sản phẩm và lưu thông hàng hóa.
Đối với truy xuất nguồn gốc nông sản, cần hình thành hệ thống dữ liệu có khả năng kết nối, chia sẻ và kiểm chứng thông tin xuyên suốt chuỗi cung ứng, phục vụ quản lý chất lượng, minh bạch nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.
Về tiến độ thực hiện, Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương phía Nam lựa chọn từ 3-5 bài toán công nghệ ưu tiên, gắn với mô hình liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu.
Trên cơ sở đề xuất của địa phương, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hoàn thiện danh mục bài toán ưu tiên trước ngày 15/12/2026, làm cơ sở triển khai những nhiệm vụ đủ điều kiện trong quý I/2027.
Theo đó, các viện nghiên cứu, trường đại học có trách nhiệm đề xuất giải pháp công nghệ phù hợp, gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 15/12/2026. Doanh nghiệp và hợp tác xã chủ động đăng ký nhu cầu công nghệ, khả năng đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa sản phẩm.
Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát tiến độ các nhiệm vụ công nghệ chiến lược về giống, vaccine, bảo đảm phù hợp với chu kỳ nghiên cứu và đặc thù sản xuất nông nghiệp.
Phó Thủ tướng yêu cầu xây dựng cơ chế theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện sau Hội nghị, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ định kỳ 3 tháng/lần để kịp thời tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh những nhiệm vụ không còn phù hợp.
“Các kết luận của Hội nghị phải được cụ thể hóa thành kế hoạch có nhiệm vụ, tiến độ, nguồn lực và sản phẩm đầu ra rõ ràng; gắn trách nhiệm thực hiện với kết quả cụ thể. Mục tiêu cuối cùng là đưa khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất, nâng cao năng suất, giảm chi phí, gia tăng giá trị nông sản và thu nhập của người dân, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho toàn ngành”, Phó Thủ tướng chỉ đạo.
Phát biểu tiếp thu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng khẳng định sẽ tiếp thu đầy đủ chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đổi mới phương thức quản lý, tổ chức sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng ngành. Bộ sẽ tập trung giải quyết các bài toán công nghệ từ thực tiễn, ưu tiên nghiên cứu giống, công nghệ sinh học, tự động hóa, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và kinh tế tuần hoàn; đồng thời thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất. Trên cơ sở kết quả hai hội nghị khu vực, Bộ khẩn trương hoàn thiện kế hoạch triển khai với nhiệm vụ, tiến độ, sản phẩm cụ thể, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện.