Sáng 7/8, tại Hội trường, thừa uỷ quyền của Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng đọc Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Cắt giảm, đơn giản hoá nhiều thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dự án Luật được xây dựng nhằm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo chuyển biển mạnh mẽ trong quản trị hành chính.
Về phạm vi điều chỉnh, theo Bộ trưởng Hùng, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều về nội dung thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh của 10 luật, bao gồm: Luật Trồng trọt, Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Luật Chăn nuôi, Luật Thú y, Luật Thủy sản, Luật Địa chất và khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Luật Thuỷ lợi, Luật Khí tượng thủy văn, Luật Đê điều.
Theo Nghị quyết của Chính phủ, Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự án Luật chỉ tập trung luật hoá Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP, không phát sinh chính sách mới (ngoại trừ luật hóa 01 nội dung của Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP).
Bộ trưởng Hùng cho biết, dự án Luật bố cục thành 12 Điều: Từ Điều 1 đến Điều 10 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật (mỗi điều sửa đổi, bổ sung 01 luật); Điều 11 quy định điều khoản thi hành; Điều 12 quy định chuyển tiếp.
Về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, dự án Luật sửa đổi, bổ sung 08 luật để cắt giảm 40 thủ tục hành chính, đơn giản hoá 12 thủ tục hành chính và cắt giảm 40 điều kiện kinh doanh.
Về phân quyền thủ tục hành chính, dự án Luật sửa đổi, bổ sung 04 luật để phân quyền 24 thủ tục hành chính của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện.
Về bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ: ngoài 02 nội dung chính nêu trên, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều khoản khác có mối liên hệ với hai nội dung nêu trên để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong nội tại của các luật được sửa đổi, bổ sung (không phát sinh chính sách mới).
Về hiệu lực thi hành: dự kiến Luật này có hiệu lực thi hành từ 01/01/2027 (hiệu lực sớm hơn 02 tháng so với yêu cầu thời hạn có hiệu lực của Nghị quyết số 206/2025/QH15). Cơ quan soạn thảo đã xây dựng dự thảo các văn bản quy định chi tiết để bảo đảm ban hành, có hiệu lực đồng thời với Luật.
Về nội dung xin ý kiến, Bộ trưởng Hùng cho biết, Khoản 1a Điều 55 Luật Địa chất và Khoáng sản đã luật hóa cơ chế, chính sách đặc thù tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP ngày 21/9/2025 của Chính phủ.
Tuy nhiên, khoản 1a Điều 55 Luật Địa chất và Khoáng sản chỉ dẫn chiếu đến “khoản 1, khoản 2 Điều 53” mà không dẫn chiếu “khoản là Điều 53" (quy định nhà thầu thi công, nhà đầu tư, chủ đầu tư được trực tiếp cấp giấy phép khai thác khoáng sản theo cơ chế, chính sách đặc thù), việc thiếu dẫn chiếu đến “khoản 1a Điều 53" là chưa luật hóa đầy đủ Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP, thiếu đối tượng được thực hiện theo cơ chế, chính sách đặc thù. Điều này dẫn vướng mắc trong cấp phép khoáng sản phục vụ các công trình, dự án đặc thù, kéo dài thời gian cấp phép, làm chậm chễ tiến độ thi công.
Hồ sơ dự án Luật đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua
Thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều (SĐBSMSĐ) của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội (sau đây gọi là Ủy ban) Nguyễn Thanh Hải cho biết, Ủy ban tán thành với sự cần thiết ban hành, phạm vi sửa đổi, bổ sung của dự án Luật. Hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị đầy đủ, đáp ứng quy định của pháp luật.
Chính phủ đã nghiêm túc, khẩn trương nghiên cứu, tiếp thu nhiều nội dung trong Kết luận số 135/KL-UBTVQH16 của UBTVQH và Báo cáo thẩm tra sơ bộ số 414/BC-UBKHCNMT16 của Thường trực Ủy ban KH,CN&MT.
Về cơ bản, dự thảo Luật kịp thời thể chế hoá các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật và tính khả thi.
Tuy nhiên, do thời gian áp dụng Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP của Chính phủ trong thực tiễn chưa nhiều (mới hơn 02 tháng) nên việc luật hóa các nội dung của Nghị quyết vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu tính khả thi, tính đồng bộ.
Do đó, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát dự thảo Luật và các dự thảo văn bản hướng dẫn, đặc biệt làm rõ phương thức hậu kiểm đối với từng nhóm thủ tục được cắt giảm; việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh phải dựa trên mức độ rủi ro của hàng hóa, dịch vụ, gắn với hạ tầng số, liên thông dữ liệu và bảo đảm cơ chế giám sát thống nhất, hiệu quả của các Bộ, ngành; rà soát việc phân cấp, phân quyền gắn với năng lực thực thi của địa phương để đảm bảo tính khả thi; tiếp tục rà soát bảo đảm tính thống nhất trong dự thảo Luật và giữa dự thảo Luật với các luật có liên quan.
Cụ thể, Ủy ban tán thành với nội dung SĐBSMSĐ của 02 luật: Luật Thủy lợi và Luật Đê điều; có ý kiến thẩm tra về nội dung SĐBSMSĐ của 08 luật và xin báo cáo một số nội dung chính như sau:
Về nội dung SĐBSMSĐ của Luật Trồng trọt, Ủy ban cơ bản tán thành với việc sửa đổi này để thực hiện cắt giảm TTHC tự công bố lưu hành giống cây trồng, giúp doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian chờ đợi phê duyệt từ cơ quan quản lý, giảm chi phí tuân thủ thủ tục.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đề nghị cần có quy định bổ sung, thay thế trong trường hợp hệ thống thông tin cập nhật bị lỗi, bảo đảm doanh nghiệp được tự công bố để sản phẩm giống cây trồng được lưu hành kịp thời phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Đồng thời, Ủy ban đề nghị bổ sung các quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc lưu giữ hồ sơ, tài liệu chứng minh nội dung tự công bố và các quy định chi tiết trong công tác hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm khi có yêu cầu; bổ sung cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý đình chỉ, hủy bỏ thông tin tự công bố và công khai vi phạm khi phát hiện giống không còn đáp ứng yêu cầu.
Về nội dung SĐBSMSĐ của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật: Dự thảo Luật sửa đổi theo hướng kéo dài thời hạn cấp và gia hạn Giấy chứng nhận đăng ký thuốc bảo vệ thực vật từ 05 năm lên 10 năm.
Ủy ban tán thành với việc sửa đổi này và nhận thấy, thuốc bảo vệ thực vật thuộc hàng hóa có mức độ rủi ro cao, là sản phẩm có độc tính cao, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, an toàn thực phẩm và sức khỏe con người; trong chu kỳ 10 năm của mỗi loại sản phẩm, thế giới có thể có những phát hiện mới về độc tính hoặc dịch hại đã kháng thuốc.
Do đó, Ủy ban đề nghị bổ sung cơ chế rà soát, đánh giá lại các hoạt chất đã được cấp phép lưu hành theo hướng chủ động, định kỳ và đột xuất khi cần thiết, do chính cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện, trên cơ sở điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán canh tác và thực tiễn sử dụng trong nước; bảo đảm kịp thời phát hiện các rủi ro phát sinh trong quá trình sử dụng lâu dài đối với sức khỏe con người, môi trường và an toàn sinh học tại Việt Nam; làm căn cứ để cơ quan quản lý chủ động quyết định loại bỏ khỏi Danh mục những hoạt chất, sản phẩm không còn phù hợp, bên cạnh tiếp nhận, thừa hưởng kết quả đánh giá, cảnh báo hoặc loại bỏ từ tổ chức quốc tế, các quốc gia khác.
Về nội dung SĐBSMSĐ của Luật Chăn nuôi: Dự thảo Luật phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi lưu giữ nguồn gen chấp thuận việc trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi có trong Danh mục giống vật nuôi cấm xuất khẩu để phục vụ nghiên cứu khoa học, triển lãm, quảng cáo và trao đổi nguồn gen giống vật nuôi quý, hiếm của Việt Nam cho bên thứ ba. Ủy ban cơ bản nhất trí việc phân quyền này.
Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về cơ chế phối hợp giữa UBND cấp tỉnh nơi có nguồn gen quý hiếm với các Bộ có liên quan (Bộ NN&MT, Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an…) và có đánh giá rủi ro sinh học, lợi ích quốc gia trước khi cấp phép.
Đồng thời, cần có cơ chế báo cáo, theo dõi giám sát từ Trung ương để bảo đảm việc trao đổi nguồn gen không bị lợi dụng, gây thất thoát nguồn gen quý hiếm của quốc gia.
Cũng theo Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Dự thảo Luật quy định trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu, thẩm quyền cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi thực hiện theo quy định của Chính phủ. Ủy ban nhận thấy, quy định như dự thảo là chưa rõ một số vấn đề như:
Thứ nhất: Trường hợp doanh nghiệp đang sản xuất trong nước có đề nghị cấp giấy chứng nhận để xuất khẩu thì hồ sơ có được chuyển tiếp hay phải thực hiện lại thủ tục hành chính.
Thứ 2: Trường hợp doanh nghiệp không còn mục tiêu xuất khẩu mà quay lại sản xuất trong nước thì hiệu lực pháp lý của Giấy chứng nhận do cấp Trung ương cấp và địa phương cấp là như thế nào; doanh nghiệp có phải làm lại hồ sơ mỗi lần thay đổi mục tiêu sản xuất hay không.
Thứ 3: Đối với doanh nghiệp vừa sản xuất thương mại trong nước, vừa xuất khẩu hoặc xuất khẩu tới nhiều quốc gia mà mỗi quốc gia có những yêu cầu khác nhau thì thực hiện như thế nào… Điều này có thể làm phát sinh vướng mắc trong quá trình thực thi, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó, Ủy ban đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu quy định rõ trong dự thảo Luật hoặc văn bản quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, hồ sơ, việc chuyển tiếp Giấy chứng nhận trong các trường hợp nêu trên.
Về nội dung SĐBSMSĐ của Luật Thú y: Dự thảo Luật đã phân quyền cho cấp tỉnh một số nội dung kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn xuất khẩu, nhập khẩu. Tuy nhiên, việc phân quyền như hiện nay chưa thực sự giảm tải cho cơ quan Trung ương khi phần lớn hoạt động kiểm dịch vẫn do cơ quan Trung ương thực hiện. Vì thế, chưa phát huy tối đa sự chủ động của địa phương và thúc đẩy thông thương hàng hóa xuất nhập khẩu động vật, sản phẩm động vật.
Do đó, Ủy ban đề nghị đánh giá toàn diện công tác kiểm dịch thú y để tiếp tục có sự phân cấp, phân quyền hợp lý theo hướng tăng cường phân quyền cho cấp tỉnh; quy định cụ thể hơn về cơ chế liên thông dữ liệu giữa hải quan, cơ quan thú y Trung ương và địa phương; tăng cường thanh tra, kiểm tra để tránh rủi ro lọt lưới kiểm dịch, dịch bệnh nguy hiểm.
Về nội dung SĐBSMSĐ của Luật Thủy sản, Ủy ban tán thành với việc bãi bỏ các quy định về điều kiện cơ sở và cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện đóng mới, cải hoán tàu cá; đồng thời, đề nghị tổ chức rà soát nhằm bảo đảm xây dựng đầy đủ, kịp thời các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để các doanh nghiệp áp dụng, không để gián đoạn do thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho cơ sở đóng mới, hoán cải tàu cá.
Về nội dung SĐBSMSĐ của Luật Địa chất và khoáng sản: Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1a Điều 55 Luật Địa chất và khoáng sản để bổ sung dẫn chiếu đến khoản 1a Điều 53 nhằm quy định đầy đủ đối tượng được thực hiện theo cơ chế, chính sách sách đặc thù tại Nghị quyết số 66.4 của Chính phủ.
Theo Chủ nhiệm Nguyễn Thanh Hải, đây là nội dung nằm ngoài Nghị quyết số 66.19 và cũng là nội dung Chính phủ xin ý kiến Quốc hội trong Tờ trình. Ủy ban cơ bản thống nhất nội dung này nhằm luật hóa đầy đủ cơ chế đặc thù cho 05 nhóm công trình tại Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP, tháo gỡ vướng mắc trong cấp phép hoạt động khoáng sản phục vụ các công trình, dự án đặc thù.
Đối với khu vực biển chưa xác định ranh giới quản lý trên biển, thẩm quyền giải quyết nội dung này được giao Chính phủ quy định. Ủy ban thấy rằng đây là nội dung quan trọng, liên quan đến nhiều lĩnh vực, do đó, đề nghị: quy định về nguyên tắc giao thẩm quyền trong Luật để Chính phủ quy định việc giao thẩm quyền giải quyết trong các trường hợp cụ thể; Chính phủ cần sớm hoàn thành việc lập bản đồ phân định đầy đủ ranh giới hành chính trên biển để tránh khoảng trống pháp lý. Lưu ý thống nhất với quy định về thẩm quyền quản lý khu vực biển của dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2.
Về phân cấp thẩm quyền cấp phép hoạt động khoáng sản (khoản 10 Điều 6 dự thảo Luật), Ủy ban về cơ bản thống nhất với việc phân cấp thẩm quyền cấp phép hoạt động khoáng sản trong dự thảo Luật.
Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị nghiên cứu tiếp thu, giải trình các ý kiến đề nghị cần tiếp tục phân quyền cấp giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác khoáng sản nhóm I cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh để thống nhất với định hướng phân quyền việc phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (dự kiến trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2).
Hoàn thiện quy định về trách nhiệm phối hợp, thời hạn trả lời, cơ chế xử lý trong trường hợp các địa phương liên quan đối với khu vực khoáng sản nằm trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên có ý kiến không thống nhất hoặc phát sinh vấn đề vượt quá khả năng phối hợp giải quyết.
Về nội dung SĐBSMSĐ của Luật Tài nguyên nước, Ủy ban tán thành việc đơn giản hóa TTHC đối với điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa như nội dung sửa đổi điểm a khoản 7 và điểm a khoản 8 Điều 38. Tuy nhiên, hoạt động vận hành hồ chứa, liên hồ chứa liên quan đến an toàn dân cư khu vực hạ du, kinh tế - xã hội và các chế độ, chính sách có liên quan, thuộc trách nhiệm của nhiều Bộ, ngành và địa phương.
Do đó, Ủy ban đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo: làm rõ thực chất việc xem xét, tổng hợp, lấy ý kiến có thực sự cắt giảm được TTHC hay không; làm rõ nội dung Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét các phương án điều chỉnh vận hành liên hồ chứa là xem xét ở những nội dung nào để bảo đảm tính minh bạch và thể hiện đúng bản chất của việc cắt giảm TTHC.
Về tạm dừng hiệu lực giấy phép thăm dò nước dưới đất, giấy phép khai thác tài nguyên nước, Dự thảo Luật bỏ điểm e khoản 1 Điều 42 quy định về quyền của tổ chức, cá nhân đề nghị cơ quan cấp phép khai thác tài nguyên nước tạm dừng có thời hạn hiệu lực của giấy phép khai thác tài nguyên nước.
Như vậy, việc quy định bỏ điểm e khoản 1 Điều 42 mới chỉ luật hóa được nội dung đề nghị tạm dừng của tổ chức cá nhân đối với hiệu lực của giấy phép khai thác tài nguyên nước mà chưa Luật hóa các nội dung không thực hiện thủ tục hành chính tạm dừng hiệu lực của giấy phép thăm dò nước dưới đất; trường hợp cơ quan nhà nước tạm dừng giấy phép thăm dò nước dưới đất, giấy phép khai thác tài nguyên nước. Do đó, Ủy ban KH,CN&MT đề nghị làm rõ lý do không luật hoá các nội dung này trong dự thảo Luật.
Về nội dung SĐBSMSĐ của Luật Khí tượng thủy văn, Dự thảo Luật sửa đổi Điều 44 theo hướng chuyển từ cơ chế thẩm định, phê duyệt sang cơ chế thông báo kế hoạch tác động vào thời tiết.
Ủy ban đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc tiếp nhận, theo dõi, giám sát việc thực hiện kế hoạch; cơ chế kiểm tra, xử lý vi phạm khi không thông báo hoặc thực hiện không đúng kế hoạch; cơ chế phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với UBND cấp tỉnh trong quản lý hoạt động tác động vào thời tiết có phạm vi ảnh hưởng liên tỉnh; đồng thời rà soát, quy định cụ thể: thời hạn thông báo; tiêu chí xác định cộng đồng chịu ảnh hưởng; trách nhiệm bồi thường; xử lý rủi ro.
Chủ nhiệm Nguyễn Thanh Hải cho rằng: Hồ sơ dự án Luật đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất theo trình tự, thủ tục rút gọn.