PV: Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt ra những định hướng quan trọng cho mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Theo ông, những định hướng nào có ý nghĩa then chốt đối với phát triển kinh tế biển, nâng cao đóng góp của kinh tế biển vào tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới?
![]() |
| PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng |
PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng: Những định hướng chiến lược về phát triển quốc gia biển mạnh mà chúng tôi tâm đắc nhất trong Nghị quyết số 20-NQ/TW là:
Thứ nhất, chuyển mạnh từ tư duy phát triển kinh tế biển sang tư duy phát triển không gian biển quốc gia; từ khai thác biển sang làm giàu từ biển; từ phát triển ngành riêng lẻ sang phát triển liên ngành; từ dựa vào tài nguyên sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tri thức. Nghị quyết định hướng phát triển quốc gia có năng lực quản trị biển hiện đại, kinh tế biển phát triển, khoa học, công nghệ biển tiên tiến, có năng lực bảo vệ chủ quyền biển, đảo và vị thế quốc tế về biển; khai thác, quản trị và phát huy hiệu quả toàn bộ không gian biển quốc gia phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030, năm 2045 và các giai đoạn tiếp theo.
Thứ hai, định vị biển là không gian tăng trưởng mới, nơi hình thành những cực tăng trưởng, những ngành kinh tế và động lực phát triển mới. Tập trung nghiên cứu phát triển, ưu tiên đầu tư các lĩnh vực có khả năng tạo đột phá cao, trong đó có nuôi biển công nghiệp, công nghệ sinh học biển và các ngành kinh tế đại dương mới.
Thứ ba, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu cho phát triển biển; chú trọng nghiên cứu bổ sung các nội dung về dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển, công nghệ biển sâu, công nghệ quan trắc biển, hệ thống giám sát biển thông minh và các lĩnh vực công nghệ biển thế hệ mới.
Thứ tư, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh trên biển với phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; bảo đảm tất cả quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển biển đều đồng thời phục vụ yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao năng lực phòng thủ và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển.
Thứ năm, đề xuất mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất, liên thông, dựa trên dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia, bảo đảm quản trị đồng bộ mặt biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, các đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; đồng thời bảo đảm sự kết nối chặt chẽ giữa đất liền với biển đảo, giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Thứ sáu, bảo đảm hiện thực hóa các chủ trương đề ra bằng các chương trình hành động cụ thể, rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm và rõ sản phẩm; đồng thời, có cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
Những định hướng chiến lược quan trọng này chính là những tư duy đột phá về biển, là cơ sở vững chắc để xây dựng, hoàn thiện và thực hiện Nghị quyết.
![]() |
| Trại nuôi cá chẽm của Công ty TNHH Australis Việt Nam ở Vân Phong, Khánh Hòa. Ảnh: VSA |
PV: Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển quốc gia biển mạnh, Việt Nam cần khai thác hiệu quả hơn các tiềm năng, lợi thế biển gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Theo ông, cần có những giải pháp đột phá nào về quy hoạch, hạ tầng, công nghệ và liên kết các ngành kinh tế biển để hình thành những động lực tăng trưởng mới?
PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng: Phát triển kinh tế biển là cuộc cách mạng đột phá cho Việt Nam. Cuộc cách mạng đó cần một hệ thống những giải pháp tổng hợp. Tôi chỉ xin đề cập một giải pháp quan trọng nhất là tạo dựng thể chế mới về chất để tạo môi trường và động lực tổng thể nhắm đến thực hiện có kết quả những mục tiêu phát triển chung. Thể chế đó là: chủ thể là doanh nghiệp; động lực là công nghệ tiên tiến; và phương thức chủ yếu là tích hợp đa ngành.
PV: Ông có thể chia sẻ rõ hơn về những yếu tố này?
PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng: Theo tôi, để cụ thể hóa ba yếu tố trên, cần triển khai đồng bộ từ phát triển lực lượng doanh nghiệp, thúc đẩy ứng dụng công nghệ tiên tiến đến tổ chức liên kết giữa các ngành kinh tế có quan hệ với biển.
Cụ thể, về chủ thể - doanh nghiệp, tôi cho rằng, chủ thể dẫn dắt sự nghiệp phát triển kinh tế biển - trong đó có công nghiệp nuôi biển - phải là doanh nghiệp. Hiện nay, nước ta có quá ít doanh nghiệp nuôi biển.
Gỡ điểm nghẽn quy hoạch để phát triển nuôi biển công nghiệpThiếu quy hoạch không gian biển hiện là điểm nghẽn lớn cản trở việc phát triển công nghiệp nuôi biển. Các địa phương cần điều chỉnh quy hoạch không gian biển theo tư duy phối hợp các ngành kinh tế biển để tận dụng và phát huy thế mạnh tổng thể đa ngành, sử dụng tối đa và bền vững tiềm năng không gian biển. |
Có 3 phương thức chính để phát triển nhanh số lượng, quy mô và chất lượng các doanh nghiệp nuôi biển. Một là, hỗ trợ các hợp tác xã, hộ gia đình nuôi biển có năng lực chuyển thành doanh nghiệp. Hai là, hỗ trợ các doanh nghiệp ngành thủy sản và các ngành khác đầu tư xây dựng cơ sở nuôi biển công nghiệp. Ba là, chuyển các viện, phân viện và trung tâm nghiên cứu hải sản thành doanh nghiệp khoa học công nghệ, tiếp thu và phát triển công nghệ nuôi biển tiên tiến nước ngoài, đảm nhiệm các khâu chuyên nghiệp, phục vụ chuỗi giá trị nuôi biển công nghiệp.
Về động lực - công nghệ tiên tiến, kinh tế biển - trong đó có nuôi biển công nghiệp, nhất là nuôi xa bờ - gắn chặt với việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến. Chuỗi giá trị nuôi biển công nghiệp gồm nhiều khâu, mỗi khâu phải có các công nghệ thích hợp và phối hợp đồng bộ với các khâu khác để tạo hiệu quả cho toàn chuỗi.
Về phương thức - tích hợp đa ngành, phát triển kinh tế biển là sự nghiệp chung của tất cả các ngành, trong đó có công nghiệp nuôi biển và nhiều ngành khác có quan hệ đến biển và cả tuyến bờ. Phương thức tích hợp đa ngành sẽ biến nuôi biển công nghiệp thành “sợi dây” bền chặt để kết nối và huy động nguồn lực tổng hợp của các ngành kinh tế như ngành nuôi hải sản, du lịch, dầu khí, đóng tàu, năng lượng, quốc phòng - an ninh...
Nếu đầu tư thích hợp, đúng tầm và quản trị tốt, ngành nuôi biển Việt Nam sẽ có thể đạt được những chỉ tiêu dự báo cho thời kỳ 2025 - 2045. Chỉ mới dự báo ở mức rất khiêm tốn so với tiềm năng phát triển, trong 20 năm tới, mỗi năm ngành nuôi biển có thể tạo ra ít nhất 10 triệu tấn nguyên liệu hải sản chất lượng cao cho chế biến thủy sản; kim ngạch xuất khẩu hải sản nuôi trồng sẽ đạt gần 20 tỷ USD, gần gấp đôi toàn bộ kim ngạch xuất khẩu thủy sản hiện nay; đưa ngành thủy sản Việt Nam lên tầm cao mới, thuộc 3 quốc gia dẫn đầu thế giới.
PV: Xin cảm ơn ông!
Nguồn: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/phat-trien-kinh-te-bien-mo-khong-gian-tang-truong-moi-tu-doanh-nghiep-va-cong-nghe-206262.html

